Liên kết Website Yên Bái

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Tin tức cập nhật

    Ngày giỗ cụ Chánh Cung 17/2 Âm lịch năm 2022

    Gốc > GIA ĐÌNH - DỌNG HỌ > Giới thiệu bản thân >

    THẾ PHẢ HỌ NGUYỄN ( trích )

    Ô Mễ xã, Lã thôn  huyện Bình Lục, tỉnh HàNam. Đời vua Tự Đức năm thứ 11, về âm lịch là ngày 15 tháng 12 năm Mậu Ngọ (1858), tại thôn Lã, họ Nguyễn gồm đủ các người con cháu trên dưới hội họp ở Từ Đường để cùng nhau thông qua bản Ước Từ và Tộc Phả gồm có 2 phần.

     

    1. Bản Ước Từ của họ Nguyễn.
    2. Bản Thế Phả của họ Nguyễn.

     

     

    I. Bản Ước Từ 

            Lời nói đầu

     

    Trộm nghe: Các loài vật sinh ra đều bởi trời đất khí hậu mà có, các con cháu và nòi giống của họ Nguyễn ta đều nhờ có Tiên Tổ lâu đời trong họ sinh ra.

    Họ Nguyễn ta bắt nguồn từ cụ Thái Tổ ở thôn Ngô, xã Ngu Nhuế, tổng Ngu Nhuế, huyện Nam Sang  tỉnh Hà Nam. Nghe lời di truyền của các cụ Tiên Tổ họ ta nói lại là: Đời thứ 11 và thứ 12 có sinh ra một Cụ Tổ làm quan Tri huyện, một Cụ Tổ làm quan Tri huyện Mỹ Lương và  phủ Quốc Oai…(1)

    Đến năm đầu niên hiệu Phúc Thái triều đình Lê Chân Tông (1643 – 1649), năm Quý Mùi (1643) thì Cụ tổ họ Nguyễn ta rời chỗ ở đến thôn Lã, xã Ô Mễ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam và một chi họ dời chỗ ở đến thôn Phùng Dực cùng xã Ô Mễ, chi họ ở thôn Phùng Dực phát triển về văn học, giàu có và tuổi thọ cao.

    Chi họ Nguyễn ta ở thôn Lã cũng phát triển các mặt về văn học, giàu có và tuổi thọ cao, nhưng về nhân đinh thì ít phát triển, 5 đời liền đều là độc đinh, đến đời cụ Tổ Hiệu sinh mới sinh hạ được 3 con trai. Từ đó họ Nguyễn ta mới có 3 chi là chi Giáp, Chi Ất và chi Bính.

    Trải qua lịch sử của họ ta thì thấy chi Giáp và chi Ất kém phần thịnh vượng, duy chi Bính có phát triển mạnh về các mặt như văn học, tuổi thọ, phú quý và quan tước.

     

    Các con cháu trong họ ta tự suy nghĩ nhận thấy rằng: Việc gây dựng ban đầu phải có nguồn gốc từ cơ sở thì việc thừa kế cũng phải có khó khăn mới duy trì được sự nghiệp của Tổ Tiên một cách lâu dài. Vậy thì tất cả con cháu trong họ Nguyễn ta, nhất thiết ai nấy đều phải nghĩ đến công đức của các vị Tiên Tổ của họ ta. Bất kỳ trai hay gái đều hết lòng thành kính trước Tiên Tổ. Ý thức phải thành kính, trang nghiêm trước ngày sinh nhật và kỵ nhật của Tổ Tiên, Ông Bà Cha Mẹ, tất cả các người tôn thân trong họ ta đều lấy hiếu kính làm gốc, nhân nghĩa làm đầu, đối với các anh chị em tôn nhân trong họ, phải thuận hoà quý mến lẫn nhau, trên dưới có thứ tự, già trẻ có luân thường, chớ cậy giàu có mà khinh người nghèo khó, chớ lấy sức mạnh mà lấn át lẫn nhau, chớ lấy quyền người trên mà lấn át người dưới, chớ lấy mình người bậc dưới mà hỗn xược với người bậc trên, chớ để phát sinh mâu thuẫn trong tôn tộc, chớ để mất đoàn kết trong anh em, chớ để cha con mất tình cảm, chớ để vợ chồng phải chia ly, chớ bạc bẽo với ông bà cha mẹ, chớ hỗn xược với chú bác cậu cô, chớ công kích bạn bè thân thuộc, chớ xa lìa anh em  ruột thịt, chớ trái lời dạy bảo của cha mẹ, chớ nghe lời dèm pha của vợ con, chớ tham tiền tài phi nghĩa, chớ chuộng tửu sắc kiêu dâm, phải lấy hiếu để làm đầu, nhân nghĩa làm gốc, thấy việc thiện thì phải làm, thấy việc ác thì phải tránh.

     

    Bản Ước Từ này do cụ Giám sinh Quốc tử giám Tri phủ Từ Sơn Chánh Lục Phẩm Hiển Tằng Tổ Khảo Nguyễn Đức Thận tự Châu Trai tiên sinh thảo ra vào ngày mồng 01 tháng 07 năm Đinh Mão (1867), đời vua Tự Đức  năm thứ 20.

    Bản Ước Từ này đã được các vị tôn thần và con cháu trong chi Bính họ Nguyễn đều nhất trí, ấn định hàng năm cứ đến ngày 01 của từng tháng thì con cháu bao gồm tất cả già trẻ, gái trai đều mặc áo quần sạch sẽ, đội khăn chỉnh tề đến tập trung tại nhà Từ Đường, Trưởng họ sắm sửa tràu cau hương đèn, dâng lên lễ các bậc Tiên Tổ, mọi người ngồi xếp hàng trước bàn thờ Tổ, ai nấy đều một lòng cung kính coi như Tiên Tổ giáng lâm trên bàn thờ. Trưởng họ quỳ đọc bản Ước Từ nói trên một lần để biểu thị lòng thành kính đối với Tiên Tổ. Người nào nghe đọc bản Ước Từ này cũng đều tự liên hệ với bản thân mình, nếu thấy mình có mặt tốt thì phát huy hơn nữa lên, nếu thấy mình có mặt sai trái thì tìm biện pháp khắc phục, làm cho mọi người trong họ đều tiến bộ về mọi mặt theo như nội dung đã ghi trong bản Ước Từ nói trên.

     

    Nay lập Bản Ước Từ : Si tôn Nguyễn Châu Trai tự Đức Thận kính viết.

     

     

    II. Bản Thế Phả họ Nguyễn

    Lời nói đầu của Bản Thế Phả họ Nguyễn

     

    Mỗi gia đình đều có một gia phả, để hiểu biết được từng đời người của các bậc Tiên Tổ và từng người, trong từng gia đình trong cả chi họ. Ta nhận thấy rằng việc biên chép tích luỹ số liệu của từng thế hệ con người trong họ cũng là rất khó khăn, nhưng việc kế thừa những thế hệ của từng người, từng gia đình trong toàn chi họ lại càng gặp phải khó khăn hơn, chỉ cần trong chi họ có sự phân công người có trách nhiệm ghi chép đầy đủ các mặt của từng đời người về ngày sinh, ngày tạ thế, tuổi thọ, sự hoạt động và việc sinh con đẻ cái của từng người, từng gia đình, nhằm giúp cho con cháu trong họ ta sau này hiểu biết được nguồn gốc của Tiên Tổ họ ta trước đây và hiện nay có một cơ sở xuất phát. Khiến cho con cháu họ ta thấy được sự kế thừa ấy từng trải qua từng thế hệ của từng người trong từng gia đình của cả chi họ nhằm giúp cho sự theo dõi có một hệ thống rõ ràng về thế phả của toàn họ Nguyễn ta. Đó là việc làm rất bổ ích lắm thay.

    Cẩn tự

     

    Sy tôn Quốc tử giám, giám sinh ưu hạng, nguyên thụ Hàn lâm viện kiểm thảo An phúc huyện Tri huyện Từ Sơn phủ, Phủ Đồng Tri, Đô sát việc lục sự Nguyễn Châu Trai tự Đức Thận đã tự soạn ra bài tự này và trực tiếp viết để lưu truyền lại cho con cháu trong họ Nguyễn, khi Cụ Tổ Nguyễn Đức Thận viết ra bài tựa và Thế Phả này lúc đó Cụ vừa chẵn 73 tuổi. Mắt Cụ rất tinh sáng không phải dùng đến mục kính./.

     

    Sau đây là hệ thống các vị Tiên Tổ họ Nguyễn

    từ cụ Thái Tổ trở xuống

     

    Thống kê gồm có: Thế hệ theo thứ tự, hạng trung, tên huý, tên chữ, năm sinh, thọ kỷ, huý nhật và phần mộ của các vị Tiên Tổ họ Nguyễn ta để con cháu trong họ ta nắm được cụ thể:

     

    1. Lịch sử họ Nguyễn ta.

    Họ Nguyễn ta nguồn gốc là người thôn Ngô, xã Ngu Nhuế, huyện Nam Sang tỉnh Hà Nam, phần mộ Tổ Tiên họ ta đến nay vẫn còn. Nghe truyền lại là đời thứ 11 và đời thứ 12 có phát sinh ra một quan tri phủ, một quan tri huyện như: Tri phủ Quốc Oai, tri huyện Mỹ Lương, sau đến đầu niên hiệu Phúc Thái triều đình nhà Lê Chân Tông(1643 – 1649), năm Quý Mùi (1643) Cụ Thủy Tổ dời đến ở chùa thôn Trung, xã An Bài, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, sau đó dời đến trụ trì ở Chùa thôn Nội xã Đồng Du, cuối cùng cụ Thuỷ tổ Nhân Nghĩa Công dời chỗ ở đến thôn Ô Lã, xã Ô Mễ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Gồm 5 đời đều độc đinh, đến đời Cụ Tổ Hiệu sinh mới sinh được 3 con trai. Họ ta từ đó mới có 3 chi. Đó là nhờ ơn tổ - ấm, con cháu họ ta sau này được hưởng phúc lộc Tiên Tổ về tuổi thọ, phú quý vinh hoa và tuổi thọ như ngày nay.

    Trải qua lịch sử họ Nguyễn ta từ khi có 3 chi họ trở lại đây, nhận thấy chi Giáp và chi Ất (chi trưởng và chi thứ) thì kém phần thịnh vượng, duy có chi Bính có phát triển về mặt đinh tài và quan tước, tuy thế nhưng cũng vẫn chưa được toàn diện. Thật là việc tích luỹ và hưởng thụ cũng có khó khăn thay.

     

                                                                                  Nay lập Thế Phả của họ Nguyễn.

    Cụ Tri phủ công viết ra bản thế phả họ Nguyễn ta vào niên hiệu Tự Đức thứ 20 (triều đình nhà Nguyễn) ngày mùng 01 tháng 07 (Mạnh Thu Nguyệt) năm Đinh Mão (1867)

     

    2. Thống kê Thế Phả họ Nguyễn.

    Bản thế phả có ghi chép các tiết mục như: Thế hệ theo thứ tự, hạnh trạng, tên chữ, tên huý, năm sinh, tuổi thọ, huý nhật (ngày tạ thế) và phần mộ vân vân… của Tổ Tiên ta.

    Những tiết mục trên là cơ sở để giúp cho con cháu trong họ ta sau này thấy rõ được nguồn gốc của các thế hệ Tổ Tiên trong họ ta từ trước đến nay và từ nay về sau có sự thừa kế liên tục theo thứ tự thế hệ của Tộc phả, nhằm tỏ lòng thành kính chí hiếu đối với Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ chúng ta, ngõ hầu đền đắp được một phần công lao gây dựng, sinh thành, nuôi dưỡng giáo dục của mọi người chúng ta đối với Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ

           Nay lập lời tựa.

     

    Thống kê Thế Phả cụ thể của họ Nguyễn: Cụ Thái Tổ Nguyễn Liễu Ngô Công người ở thôn Ngô, xã Ngu Nhuế, tổng Ngu Nhuế, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam. Huý nhật là ngày 08 tháng 02, không tường ngày sinh và tuổi thọ ( Căn cứ năm sinh Cụ Thủy Tổ Nhân Nghĩa Công sinh năm Đinh Tỵ (1617) dự đoán năm sinh Cụ Thái Tổ khoảng từ năm 1570 đến năm 1600 - NXT).

    Mộ Cụ táng ở gò Đống Mật hình con ong thuộc sinh quán cụ Thái Tổ, sau cải táng đến ở mô đất hình con Phượng gần đuôi Phượng (tục gọi là cái phao câu con Phượng), Ngôi mộ này lấy mỏ con làm bút, trước mặt về phương đông có cuốn thư làm án, lại có 5 con ngựa lai triều ở phía trước mặt. Ngôi mộ này cũng táng ở địa phận thôn có Trưởng họ trông coi. Cụ sinh trai là Nhân Nghĩa Công .

    Cụ Thái Tổ Tỷ hiệu Từ Nhan Nhụ Nhân huý nhật là ngày mùng 04 tháng 08, không biết rõ phần mộ.

    Cụ Thuỷ Tổ Nhân Nghĩa Công mộ theo thuyền đạo vào đầu niên hiệu Phúc Thái triều Lê Chân Tông(1643 – 1649), năm Quý Mùi (1643) âm lịch cụ xuất giá đi tu đến trụ trì ở Chùa Trung Phương, xã An Bài, huyện Bình Lục, được 3 năm thì nhân dân thôn Nội, xã Đồng Du cùng huyện mời cụ về ở chùa, mọi người đều kính trọng, suy tôn cụ là Đại Danh Sư. Sau Cụ dời đến thôn Ô Lã, xã Ô Mễ cùng huyện, cùng với một Cụ chi thứ đến ở thôn Phùng Dục, chi này lúc đầu phát triển về văn học, phú hào và tuổi thọ.

    Cụ Thái tổ Nguyễn Liễu Ngô Công sinh ra cụ Thuỷ Tổ Nhân Nghĩa Công tự Pháp Thông sinh năm Đinh Tỵ (1617),  huý nhật là ngày 18 tháng 07 năm Nhâm Thân ( 1692) thọ 76 tuổi, mộ Cụ táng ở chính giữ mắt con cá lớn đống Triều Quít ( tục gọi là Đại Ngư Hình) .

    Cụ Thuỷ Tổ Tỷ Nguyễn Quý Thị hiệu Từ Nhân tên huý của cụ là Vi Nhụ Nhân, cụ sinh năm Nhâm Tuất (1622), huý nhật là ngày 12 tháng 07 âm lịch, mộ Cụ táng ở xứ Vườn Lựa, bên hữu đống thổ tinh, bên nam ruộng Bút Nghiên của bản thôn.

    Cụ Thuỷ Tổ Nhân Nghĩa Công sinh ra cụ Nhân Trí Công và 1 con gái là Nguyễn Thị Lan.

    Cụ Tổ Nhân Trí Công sinh năm Mậu Dần (1638), húy nhật 07/04 âm lịch, thọ 75 tuổi. Cụ sinh ra cụ Nhân Chiêu Công và 2 con gái là Nguyễn Ngọc Hương và Nguyễn Ngọc Sa, xuất giá họ Ngô.

    Cụ Tổ Nhân Chiêu Công sinh năm Đinh Mùi (1667), thọ 75 tuổi, húy nhật 12/02 âm lịch. Cụ sinh ra cụ Bách Xuân Công mộ táng ở Xứ Đồng Hang thôn Bình cùng xã.

    Cụ Tổ Bách Xuân Công húy kỵ 19/01 âm lịch, thọ 83 tuổi. Cụ sinh ra cụ Bỉnh Chính Công và 4 con gái là Ngọc Cơ lấy chống ở xã Thư Lâu, huyện Nam Sang; Ngọc Trị lấy chồng người họ Trần; Ngọc Thính lấy chồng người họ Ngô; Ngọc Cung lấy chồng người họ Phạm.

    Cụ Tổ Bỉnh Chính Công, sinh năm Kỷ Hợi (1719) có khả năng về văn học, cụ đi thi hương đỗ đầu xứ. Húy nhật 29/06 âm lịch, thọ 68 tuổi. Cụ sinh ra 3 con trai:

    - Con trai trưởng là Cụ tổ Bỉnh Giáo Công, sinh năm Tân Dậu (1741) húy nhật 07/09 âm lịch, thọ 58 tuổi, mộ táng tại Đường Lăng.

    - Con trai thứ 2 là Cụ tổ Bỉnh Du Công, sinh năm Đinh Mão (1747), giữ chức Thủ phủ Biện lại, húy nhật 11/11 âm lịch, mộ táng tại Mả Mít xứ .

    - Con trai thứ 3 là Bỉnh Huy Công sinh năm Canh Ngọ (1750), giữ chức Tổng trưởng kiêm Thông huyện, húy nhật 27/09 âm lịch, hưởng thọ 54 tuổi, mộ táng tại đống mộc tinh chữ Vương thôn Bình cùng xã.

     

    Phần còn lại của Thế Phả ghi chép Chi họ Nguyễn tại Ô Lữ - Đồng Du – Bình Lục .

     

    3. Phần nói về thứ nam Hiền tẳng tổ khảo Giám sinh Quốc tử giám Tri phủ Từ Sơn Nguyễn Đức Thận hiệu Châu Trai :

              Cụ sinh giờ Mão ngày Tân Mùi (23) tháng Bính Tuất (9) năm Ất Mão (1795). Cụ Nguyễn Đức Thận khi còn nhỏ thì hiếu học và hay nhút nhát, lúc lớn thì tính nết thuần hòa, trung thực và rất sạch sẽ, ít nói cười, có nhiều nghĩa khí, nhân từ bác ái, Cụ thích ăn quả ngọt và các chất ngọt .

              Cụ có trình độ chữ Hán rất cao siêu, năm Quý Mùi (1823) đời Minh Mạng thứ 4 Cụ thi trúng Khóa Nguyên ( đỗ đầu xứ ), tháng 9 năm Quý Mùi vâng phụng Bảo chiếu bổ xung huyện Cống, lại thi sát hạch trúng ngay ưu hạng thứ 8 được bổ vào Giám sinh trường Quốc tử giám. Qua 6 kỳ thi sát hạch đều trúng vào ưu hạng ( lục ưu ) đến năm Ât Dậu (1825) đời Minh Mạng thứ 6 dự thi kỳ tinh hạch Cụ trúng vào ưu hạng thứ 7 được bổ chức Kiểm thảo, bổ thụ Từ viên Hàn lâm viện Kiểm thảo Tòng Thất phẩm giữ chức huyện Chính, Tri huyện An Phúc và chức Điển Phủ thành đồng Tri Phủ phủ Từ Sơn, Chánh Lục phẩm Phong hiến đài lục sự Đô sát viện .

              Tháng 9 năm Giáp Ngọ (1834) đời Minh Mạng thứ 15 vì cử nhầm tên Cửu phẩm thư lại vào làm việc ở Viện Đô sát nên Cụ bị hạch cho về hưu quan vào lúc 40 tuổi sau 15 năm tại chức. Đời Tự Đức thứ 9 (1856) Bộ lại triều đình có chiếu chỉ phục hồi danh bạ Giám sinh trường Quốc tử giám và trả lại nguyên chức cho Cụ nhưng cụ Cụ lại cớ vì sức khỏe bị giảm nên xin hưu quan và được triều đình chấp thuận. Năm 90 tuổi (1884) Cụ tổ chức mừng thượng thọ có nhiều bạn quan cũ đến mừng tặng nhiều câu đối. Húy nhật của Cụ ngày 18/11/ Ất Dậu (1885), hưởng thọ 91 tuổi. Mộ phần táng tại xứ Đường Lăng – Ô Lã thôn, Ô Mễ xã, Bình Lục huyện.

     

              Cụ Giám sinh Quốc tử giám Tri phủ Từ SơnNguyễn Đức Thận có bà phế thê là Lưu Thị Đoàn sinh được một con trai. Vợ thứ 2 là Phạm Thị Quý húy Giảng hiệu Đạo Nghĩa An Nhân quê Hải Dương sinh được 2 trai và 2 gái. Con gái thứ 2 của Cụ là Nguyễn Thị Chơm sinh năm Bính Thân (1836), năm 12 tuổi bị bệnh đậu mùa tạ thế ngày 25 tháng 01 năm Đinh Mùi (1847). Mộ phần táng tại xứ Đường Lăng – Ô Lã thôn, Ô Mễ xã, Bình Lục huyện .

     Từ ngày tạ thế bà rất linh thiêng thường chầu bên cạnh Đức Vân Tiên Thánh Mẫu ở đền Phủ Dày huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định. Vào ngày khai lộc mồng 3 tháng 3 âm lịch tự nhiên Tổ cô  bốc đồng vào một người lạ mặt ở nơi khác  đòi gọi cháu Tằng tôn là Nguyên Đức Am cũng đến dâng lễ hương ở đền đó đến nói rằng : Ta là Tổ cô của họ nhà cháu, ta được theo hầu Đức Vân Tiên Thánh mẫu ở đền Phủ Dày này, ta thường linh ứng về thăm tiên tổ, con cháu trong họ, từ nay cháu về nói với mọi người trong họ biết là các ngày tuần hàng tháng, ngày Tết nguyên đán, ngày Thanh Minh, ngày húy nhật của ta ai nấy đốt hương và hoa quả để phụng thờ và cho biết quý hiệu của bà là: Tổ cô Nguyễn Thị Chơm hiệu Vân Tiên Công Chúa Vị Tiền. Từ đó những ai mà tín ngưỡng có lòng thành đốt hương dâng hoa thờ phụng bà Tổ cô đều thấy có sự linh ứng, lòng thành cầu nguyện đều được như ý, con cháu trong họ đều khen kỳ dị khác thường .

     

                                                Nguyễn Xuân Tiến trích lụcngày 13/02/2011

     

    (1)  Quốc Oai trước đây là trấn, lộ. Năm 1397, Hồ Quý Ly đổi là phủ Quảng Oai. Thời Hậu Lê là phủ Quốc Oai, ở phía Đông trấn Sơn Tây gồm 6 huyện: Từ Liêm, Phúc Lộc, Yên Sơn, Thạch Thất, Đan Phượng, Mỹ Lương.

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Đức Thăng @ 13:49 15/04/2025
    Số lượt xem: 21
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    CHUNG TAY VÌ YÊU THƯƠNG - THCS NGUYỄN VĂN HUYÊN , HOÀI ĐỨC HÀ NỘI LÊN TRƯỜNG TH&THCS TUY LỘC

    Viết tiếp câu chuyện hòa bình Tốp múa lớp 9 trường TH&THCS Tuy Lộc

    Hào Khí Việt Nam- Học sinh lớp 4B trường TH&THCS Tuy Lộc thành phố Yên Bái- Nhảy shuffle dance

    Trường THCS, THPT Đoàn Thị Điểm lên thăm giúp đỡ vùng cao

    Múa Tiếng gió ầu ơ - TH&THCS Tuy Lộc - TP Yên Bái

    TRƯỜNG TH&THCS TUY LỘC THAM QUAN CÁC ĐỊA ĐIỂM LỊCH SỬ - BẢO TÀNG YÊN BÁI

    Yên Bái quê tôi

    Hoạt động vui khỏe chào mừng 20/10 trường TH&THCS Tuy Lộc

    Truyền thông Y tế học sinh trường TH&THCS Tuy Lộc - tp Yên Bái phòng chống sâu răng

    Một số hình ảnh về học sinh Trường TH&THCS Tuy Lộc thành phố Yên Bái sáng 4/9/2022

    Trường Tiểu Học & THCS Tuy Lộc TP Yên Bái Khoảnh Khắc đẹp chia tay chào Hè 2025

    Trường Tiểu Học & THCS Tuy Lộc TP Yên Bái Khoảnh Khắc đẹp chia tay chào Hè 2025